Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

Nỗ lực gìn giữ và phát huy giá trị Di sản thế giới Hội An và Mỹ Sơn


Nỗ lực gìn giữ và phát huy giá trị Di sản thế giới Hội An và Mỹ Sơn

Đoàn Hữu Trung (TTXVN/Vietnam+) lúc : 07/12/14 10:12

Du khách tham quan phố cổ Hội An. (Ảnh: Minh Đức/TTXVN)


Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn ở Quảng Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới đến nay đã tròn 15 năm.

Với sự nỗ lực của tỉnh Quảng Nam, Chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế, việc trùng tu, chống xuống cấp ở các di sản đã và đang được thực hiện.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong quá trình tu bổ, tôn tạo, các di sản không bị biến dạng giữ được nguyên gốc giá trị.

Trong nỗ lực bảo vệ các di sản quý giá này, hàng loạt các biện pháp cấp bách đã được thực hiện. Đó là xây dựng các tuyến phố đi bộ, đi xe đạp thay cho phương tiện gắn động cơ để giảm tiếng ồn cho phố cổ, khoanh vùng di tích để bảo vệ nghiêm ngặt, trùng tu các di tích trong phố cổ Hội An.

Đối với quần thể kiến trúc cổ ở Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn đã và đang có dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng, các ngành chức năng của tỉnh Quảng Nam, các bộ, ngành Trung ương và các tổ chức quốc tế từng bước triển khai việc trùng tu, chống xuống cấp.

Ông Phan Hộ, Trưởng Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn cho biết: "Hội An và Mỹ Sơn là hai di sản văn hóa thế giới, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức thực hiện việc gìn giữ, bảo tồn và trùng tu vốn cổ. Tuy nhiên, do nội lực có hạn, vì vậy chúng tôi mong có sự giúp đỡ của Chính phủ, của các tổ chức quốc tế. Thời gian tới, chúng tôi sẽ đẩy mạnh việc kêu gọi các tổ chức trong và ngoài nước, các nhà khoa học trong nước và quốc tế góp phần bảo vệ di sản. Chúng tôi cũng tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền cho nhân dân trong vùng di sản có ý thức, trách nhiệm cao về việc giữ gìn di sản, làm thế nào để di sản trường tồn với thời gian."

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, ông Đinh Hài thì nhấn mạnh Quảng Nam có thương hiệu là "Một điểm đến hai Di sản văn hóa thế giới." Mỗi năm, các di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn thu hút hàng triệu lượt du khách trong nước và quốc tế. Các di sản văn hóa thế giới mà Quảng Nam sở hữu giữ vai trò hết sức quan trọng với phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

Thế nhưng vấn đề địa phương trăn trở và quan tâm là làm thế nào để vừa khai thác được các giá trị của di sản nhưng vừa bảo tồn di sản văn hóa Mỹ Sơn và Hội An.

Trong 15 năm qua, cùng với sự nỗ lực của địa phương trong việc đầu tư công sức và tiền của với số tiền hàng trăm tỷ đồng để bảo vệ di sản, Quảng Nam đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, của các bộ, ngành Trung ương và sự hợp tác của các tổ chức quốc tế với số tiền hàng triệu USD nên đến nay phần lớn các di tích đều được được trùng tu, chống xuống cấp hiệu quả.

Riêng trong giai đoạn 2003-2013, Dự án tôn tạo, hợp tác ba bên UNESCO-Việt Nam-Italy về “Thuyết trình và đào tạo các tiêu chuẩn quốc tế về bảo tồn nhóm tháp G Mỹ Sơn” với tổng kinh phí hơn 1,3 triệu USD đã được triển khai.

Dự án này đã góp phần quan trọng vào việc gia cố chống xuống cấp và từng bước định hình lại nguyên dạng nhóm tháp G.

Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản thông qua tổ chức JICA đã viện trợ không hoàn lại 299 triệu yen (hơn 2,46 triệu USD) nhằm cung cấp thông tin, giới thiệu tổng quan về Mỹ Sơn, góp phần quảng bá hình ảnh Mỹ Sơn và nâng cao nhận thức của người dân về di tích này.

Đối với Mỹ Sơn, hiện, các cơ quan chức năng đang tiến hành các thủ tục để giải ngân khoảng 3 triệu USD do Chính phủ Ấn Độ tài trợ để góp phần trùng tu, chống xuống cấp Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn.

Tuy nhiên do sự tác động khắc nghiệt của thời gian, hiện tại nhiều hạng mục công trình ở Di sản Hội An và Mỹ Sơn đã và đang xuống cấp đến mức báo động, vì vậy Quảng Nam sẽ phải nỗ lực hơn nữa trong công tác bảo vệ, tôn tạo và trùng tu Di sản.

Như vậy, có thể thấy trước sự xuống cấp của các di sản, vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong quá trình trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa Hội An và Mỹ Sơn đảm bảo được sự an toàn trước sự tác động khắc nghiệt của thời gian cũng như sự phân hóa, bào mòn của các loại vật liệu nhưng vẫn giữ được nguyên gốc giá trị của các di sản.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Phú, Giám đốc Sở Xây dựng Quảng Nam, cho biết Sở Xây dựng đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện Duy Xuyên (địa phương có di sản Mỹ Sơn) và thành phố Hội An cùng các nhà khoa học đề xuất việc triển khai các giải pháp công nghệ và vật liệu vào quá trình tôn tạo, phục hồi di sản.

Mục tiêu chính của việc làm này là làm thế nào để trong quá trình trùng tu, các di sản phải giữ được nguyên gốc, di sản không bị biến dạng đồng thời vẫn đảm bảo an toàn cho di sản và cho du khách đến tham quan.

Liên quan đến giải pháp công nghệ, vật liệu cũng như các biện pháp để di sản không bị biến dạng khi được trùng tu, ông Đinh Hài, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam, cho biết nhiều nhà khoa học là Việt kiều đang sinh sống và làm việc tại các nước Nga, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, các chuyên gia Ấn Độ... có nhã ý sẵn sàng đề xuất và tư vấn các giải pháp về khoa học và vật liệu xây dựng cũng như biện pháp thi công phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí hậu. Đây là những tín hiệu đáng mừng trong quá trình trùng tu và tôn tạo các di sản trong thời gian tới.

"Chung sức giữ gìn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa" không chỉ là thông điệp nhân dịp kỷ niệm 15 năm Hội An và Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới mà đó còn là lời nhắc nhở với tất cả mọi người về ý thức và trách nhiệm bảo vệ, trùng tu di sản không chỉ cho hôm nay mà còn cho cả mai sau./.

 

10 di san van hoa the gioi tai viet nam

      10 di san van hoa the gioi tai viet nam
Ngày 1/8, kỳ họp lần thứ 34 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO họp tại thủ đô Brasilia của Brazil đã biểu quyết thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long là Di sản văn hóa thế giới. 


Cố đô Huế. (Nguồn: Internet)

 

Đây là sự kiện hết sức có ý nghĩa đối với Thủ đô Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung trước thềm Đại lễ kỷ niệm 1.000 Thăng Long-Hà Nội.

Việt Nam có 10 di sản thế giới được UNESCO công nhận từ trước tới nay.

1. Quần thể di tích Cố đô Huế

Cố đô Huế là kinh đô một thời của Việt Nam, nổi tiếng với một hệ thống những đền, chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc nguy nga tráng lệ gắn liền với cảnh quan thiên nhiên núi sông thơ mộng. Nằm ở bờ Bắc sông Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng với diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi ba vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. 

Ba tòa thành này được đặt lồng vào nhau, bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên.

Cố đô Huế còn là nơi lưu giữ rất nhiều những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam.

Năm 1993, quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

 

2. Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một di sản độc đáo vì nó chứa đựng những dấu tích quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử trái đất, là cái nôi cư trú của người Việt cổ, đồng thời là tác phẩm nghệ thuật tạo hình vĩ đại của thiên nhiên với sự hiện diện của hàng nghìn đảo đá muôn hình vạn trạng; nhiều hang động kỳ thú quần tụ thành một thế giới vừa sinh động vừa huyền bí. 

Bên cạnh đó, vịnh Hạ Long còn là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… cùng với hàng nghìn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng.

Năm 1994, UNESCO đã chính thức công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới bởi giá trị ngoại hạng về mặt cảnh quan. Năm 2000, vịnh Hạ Long tiếp tục được UNESCO công nhận lần thứ hai là Di sản địa chất thế giới vì những giá trị độc đáo về địa chất, địa mạo.

3. Khu di tích Mỹ Sơn

Khu di tích Mỹ Sơn là khu vực đền tháp của người Chăm cổ, được học giả người Pháp M.C.Paris tìm thấy trong chuyến thám hiểm vùng Đông Nam Á vào năm 1898. Toàn bộ khu di tích nằm lọt trong thung lũng Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68km về hướng Tây-Tây Nam.

Được khởi công từ thế kỷ 4, Mỹ Sơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu của dân tộc Chăm. Đây được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của đạo Hindu (Ấn Độ giáo) ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam.

Năm 1999, khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

 

4. Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đây là một khu phố được hình thành từ thế kỷ 16-17, trước đây là thương cảng của miền Trung. Đến nay khu phố cổ Hội An vẫn bảo tồn gần như nguyên trạng quần thể di tích kiến trúc gồm nhiều loại hình như nhà ở, hội quán, đình chùa, miếu, giếng, cầu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ kết hợp với đường giao thông ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ, mô hình phổ biến của các đô thị thương nghiệp phương Đông thời Trung đại. 

Cuộc sống thường ngày của cư dân Hội An với những tập quán, sinh hoạt văn hóa lâu đời đang được duy trì một cách khá bền vững, hiện là một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị thời phong kiến.

Năm 1999, phố cổ Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

5. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là một khu bảo tồn thiên nhiên tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, có tổng diện tích 85.754ha. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, các loại hang động, sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, ngoài hệ thống sinh cảnh thảm rừng và động vật hoang dã, vùng này chứa đựng trong lòng nó cả một hệ thống trên 300 hang động lớn nhỏ được mệnh danh là “vương quốc hang động.” 

Hệ thống động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang động hoàng gia Anh (BCRA) đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế giới với bốn điểm nhất có các sông ngầm dài nhất, có cửa hang cao và rộng nhất, có những bờ cát rộng và đẹp nhất, có những thạch nhũ đẹp nhất.

Năm 2003, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.

6. Nhã nhạc cung đình Huế

Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Trong phần nhận định về nhã nhạc, Hội đồng UNESCO đánh giá Nhã nhạc Việt Nam mang ý nghĩa “âm nhạc tao nhã.” 

Nhã nhạc đã đề cập đến âm nhạc cung đình Việt Nam được trình diễn tại các lễ thường niên bao gồm các lễ kỷ niệm và những ngày lễ tôn giáo cũng như các sự kiện đặc biệt như lễ đăng quang, lễ tang hay những dịp đón tiếp chính thức.

Năm 2003, nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

7. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải dài trên năm tỉnh Tây Nguyên Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau như Êđê, Bana, Mạ… 

Văn hóa cồng chiêng là loại hình nghệ thuật gắn với lịch sử văn hóa của các dân tộc thiểu số sống dọc Trường Sơn-Tây Nguyên. Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên sử dụng cồng chiêng theo cách thức riêng để chơi những bản nhạc của riêng dân tộc mình, nhất là vào dịp lễ hội, chào đón năm mới, mừng nhà mới… Trải qua bao năm tháng, cồng chiêng đã trở thành nét văn hóa đặc trưng, đầy sức quyến rũ và hấp dẫn của vùng đất Tây Nguyên.

Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã chính thức được UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

8. Quan họ Bắc Ninh

Quan họ là một trong những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam; tập trung chủ yếu ở vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh và Bắc Giang). Nghệ thuật dân ca Quan họ được coi là đỉnh cao của nghệ thuật thi ca. Đến nay, Bắc Ninh còn gần 30 làng Quan họ gốc, với hơn 300 làn điệu dân ca Quan họ.

Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao giá trị văn hóa đặc biệt, tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả trang phục của loại hình nghệ thuật này.

Năm 2009, UNESCO chính thức công nhận Quan họ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

9. Ca trù

Hát ca trù (hay hát “ả đào”, hát “cô đầu”) là bộ môn nghệ thuật truyền thống của miền Bắc Việt Nam, rất phổ biến trong đời sống sinh hoạt văn hóa ở khu vực này từ thế kỷ 15. Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học, ca trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là hát nói.

Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá về ca trù: Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỷ 15 đến nay, được biểu diễn trong không gian văn hóa đa dạng gắn liền ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các tổ chức giáo phường. Mặc dù trải qua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trị của nghệ thuật đối với văn hóa Việt Nam.

Ngày 1/10/2009, ca trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

10. Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội

Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội bao gồm Khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu với diện tích hơn 47.000m2 và Thành cổ Hà Nội với diện tích hơn 138.000m2, tạo thành một di sản thống nhất. Đây là minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ với khu vực và thế giới; là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt chiều dài lịch sử. 

Những tầng văn hóa khảo cổ, di tích kiến trúc và nghệ thuật của di sản phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục của các vương triều cai trị đất nước Việt Nam trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hóa trong gần một nghìn năm.

Trên thế giới rất hiếm tìm thấy một di sản thể hiện được tính liên tục dài lâu như vậy của sự phát triển chính trị, văn hóa như tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội./.

Đình Trung (TTXVN/Vietnam+)

 

 

thăm di tích mỹ sơn


 thăm di tích mỹ sơn

(VOV5)- Cái nắng chói chang, gay gắt của tiết trời tháng 5 cũng không làm cho lượng khách đến với thánh địa Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam giảm đi chút nào. Một khu phế tích , chỉ còn vài cái tháp không còn nguyên vẹn, gạch ngói ngổn ngang. Vậy điều gì khiến cho khu di tích này hấp dẫn du khách trong và ngoài nước đến vậy?


Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70 km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo. Đến Đà Nẵng, du khách có thể thuê xe máy, hoặc ô tô hay đi theo tuyến xe buýt chạy thẳng đến Mỹ Sơn mất khoảng 1 tiếng đồng hồ.



Mỹ Sơn là di tích Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa, nơi đây hiện còn in dấu  hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tổ tiên hoàng tộc. Một trong những điểm đặc sắc nhất trong kiến trúc tháp Chăm chính là những bức phù điêu trên tường tháp và gạch xây tháp. Người Chăm đã dùng một chất vữa mỏng để xây tháp và các nghệ nhân đã tiến hành chạm khắc thẳng vào nền tường gạch những họa tiết tỉ mỉ, tinh tế. Điều này cũng khiến cho bao du khách đến tận nơi để được nhìn thấy sự kỳ diệu của các công trình này. Từ thành phố HCM, ông Đinh cho biết đây là lần đầu tiên gia đình ông đến Mỹ Sơn. "Nghe nói là danh lam thắng cảnh cấp quốc gia và thế giới đến để cho biết. Cũng nghe nói cũng chưa hình dung gì về di tích này. Đến đây thấy cổ kính và mình tìm hiểu được văn hóa của người Chăm."

 

lễ hội vu lan


 lễ hội vu lan

Thưa đại chúng !

 

Một câu thơ cổ nói về mùa thu như thế này : “ Một lá Ngô Đồng rụng mọi người đều biết đã là mùa thu”. Nơi miền Cao Nguyên nói chung và tại chùa Bửu Minh , Biển Hồ Trà của mình nói riêng chúng ta không thấy cây ngô đồng do vậy không thấy lá ngô đồng rụng, nhưng chúng ta có những biểu tượng khác nhắc cho chúng ta biết rằng đây là mùa thu.



Chùa Bửu Minh cũ 

đêm trung thu lớn nhất việt nam


 đêm trung thu lớn nhất việt nam

Description: Quay lên

 

(TNO) Vào lúc 18 giờ tối nay 7.9, 'Lễ hội đèn trung thu lớn nhất Việt Nam' và cũng được xem là tốn kém nhất Việt Nam sẽ chính thức khai cuộc ở Phan Thiết.

(TNO) Vào lúc 18 giờ tối nay 7.9, 'Lễ hội đèn trung thu lớn nhất Việt Nam' và cũng được xem là tốn kém nhất Việt Nam sẽ chính thức khai cuộc ở Phan Thiết.


Đèn trung thu khổng lồ trong đợt lễ hội trước - Ảnh: Quế Hà

Theo thông báo từ Phó ban tổ chức lễ hội Nguyễn Văn Hòa (Trưởng Phòng Văn hóa thông tin Phan Thiết) thì năm nay sẽ có 32 đèn trung thu, đại diện 32 trường học của thành phố Phan Thiết tham dự đêm rước đèn.

Ngoài 32 đèn thì mỗi em được vinh dự đứng vào hàng ngũ của trường đi rước đèn sẽ phải có một chiếc đèn trung thu nhỏ cầm trên tay.

Lễ hội trung thu Phan Thiết là lễ hội truyền thống có từ hàng trăm năm nay. Nhưng quy mô của lễ hội này chỉ hoành tráng kể từ hơn chục năm trở lại đây, khi mà sách kỷ lục Guinness Việt Nam công nhận là “Lễ hội đèn trung thu lớn nhất Việt Nam”.

Trong vòng 10 năm trở lại đây, lễ hội này mỗi năm một hoành tráng và to lớn hơn, theo đúng nghĩa của từ to lớn.

 
Description: Đêm hội trung thu tốn kém nhất Việt Nam - ảnh 2
Văn hóa truyền thống Việt không phải cứ làm “lớn nhất Việt Nam” là được giữ gìn. Sự gìn giữ văn hóa Việt, nét riêng truyền thống còn phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức ở mỗi sự kiện văn hóa khác nhau
Description: Đêm hội trung thu tốn kém nhất Việt Nam - ảnh 3

Nó to lớn là bởi vì mỗi một chiếc đèn trung thu giá tiền mỗi năm một cao thêm. Quy cách đèn, cùng kiểu dáng, mẫu mã và cả kích thước cũng hoành tráng lên.

Năm nay, theo quan sát của phóng viên Thanh Niên Online, mỗi đèn trung thu (trong số 32 đèn) có giá trị không dưới 50 triệu đồng. Có đèn được làm công phu, sắc sảo, hình thù đẹp và với sự hỗ trợ của ánh sáng kỹ thuật, có thể lên tới 70 triệu đồng.

Đèn trung thu trong lễ hội này, có cái cao tới 3 mét, rộng 2 mét, to như chiếc xe ô tô. Thậm chí khi đi trình diễn trên phố, phải có người cầm sào tre đi theo gỡ dây điện ngoài đường vì sợ vướng vào đèn. Đèn trung thu nhưng được gắn theo cả một máy phát điện vào xe đẩy. Có con chíp điện tử điều khiển từ xa. Và có khi được gắn cả vào một chiếc ô tô mới kéo nổi.

Mỗi một trường tham gia vào lễ hội này, phải chuẩn bị nguồn kinh phí không dưới 70 triệu đồng để làm đèn. Đấy là chưa kể 120 em đi theo hàng ngũ của lễ hội phải được trang bị 120 đèn mini, cũng với hình thù không được trùng lặp với bất cứ trường nào khác.

Không phải ai cũng biết làm đèn trung thu. Ở Phan Thiết, chỉ một vài cơ sở quảng cáo biết làm. Do vậy, nhiều trường tranh thủ đặt họ làm đèn từ đầu tháng 8, khi mà học sinh còn chưa tựu trường.

Tính trung bình, mỗi trường khoảng 70 triệu đồng cho đêm trung thu tối nay. Toàn ngành giáo dục thành phố Phan Thiết phải tốn mất hơn 2 tỉ đồng. Đấy là chưa kể tiền thưởng của Ban tổ chức cho những đèn “đẹp nhất”, “đẹp nhì” của lễ hội.

Với phương châm xã hội hóa, việc làm đèn không sử dụng ngân sách nhà nước. Dĩ nhiên, tiền này được huy động từ sự đóng góp “tự nguyện” của các bậc phụ huynh.

“Lễ hội trung thu lớn nhất Việt Nam” hiện đã xuất hiện mô hình tận ngoài Tuyên Quang, một tỉnh kết nghĩa với Bình Thuận.

Tuy nhiên mô hình làm đèn lồng ở Tuyên Quang, dù cũng hoành tráng nhưng nó được huy động hoàn toàn từ sự sáng tạo của người dân, từng làng từng xóm chứ không thương mại hóa và cao cấp bằng Phan Thiết.


Chiếc đèn của Trường tiểu học Phú Thủy 1 để sẵn ở cổng chuẩn bị kéo về sân lễ đài


L hi đua thuyn truyn thông

·         font size decrease font size Description: decrease font sizeincrease font size Description: increase font size
·         Email

Lễ hội đua thuyền truyền thống diễn ra hàng năm vào dịp 30/4, kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và 1/5 kỷ niệm ngày Quốc tế lao động.



Đây là một hoạt động trong diễn ra trong khuôn khổ của lễ hội Thống nhất Non sông. Với hàng chục đơn vị thi tài, trong đó có các đội nam và các đội nữ đại diện cho vùng sông nước của các huyện, thị, thành về tham gia. Lễ hội đua thuyền truyền thống là một hoạt động mang đậm nét văn hóa của các ngư dân miền sông nước Quảng Trị.

 


Đà Nẵng: Lễ hội Cầu ngư

 
Lễ hội Cá Ông (còn được gọi là lễ tế Cá Voi) là lễ hội lớn nhất của ngư dân thành phố Đà Nẵng. Thờ  Cá Ông ở đây không chỉ được xem là sự tôn kính thần linh mà còn gắn liền với sự hưng thịnh của cả làng. 'Ông' là tiếng gọi tôn kính của ngư dân dành riêng cho cá voi, loài cá thường giúp họ vượt qua tai nạn khi lênh đênh trên biển cả. Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong, như dân tổ chức lễ tế cá Ông lồng ghép dưới hình thức Lễ hội Cầu ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá nam. Tại Đà Nẵng, Lễ hội Cầu ngư được tổ chức ở những vùng ven biển như Mân Thái, Thọ Quang, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà, Hòa Hiệp...
Lễ hội được diễn ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch. Ngày đầu thiết lễ tiên thường, ngày sau là lễ tế chính thức. Trong ngày lễ, bàn thờ được trang hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa. Làng chọn ra một ban nghi lễ gồm các cụ cao niên, hiền đức, có uy tín với bạn chài và không bị mắc tang chế. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ (không được dùng hải sản) và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.

Rạng sáng ngày hôm sau, dân làng đánh trống làm lễ rước trên biển. Có nơi còn tổ chức lễ rước Ông từ làng này qua làng khác để bày tỏ sự đoàn kết giữa các vạn chài. Tất cả tàu thuyền ra khơi đến một vị trí đã định trước và vị chánh tế tổ chức “xin keo”. Đó là lễ Cá Ông chứng dám lòng thành của ngư dân ngoài biển. Vào nửa đêm hôm đó, dân làng làm lễ chánh tế bao gồm lễ khai mõ, đội học trò dâng hương. Về phần hội, tuỳ điều kiện, mỗi địa phương có một hình thức tổ chức riêng, nhưng cũng đều là các trò chơi dân gian vùng biển: lắc thúng, đua thuyền, bơi lội, kéo co, đá bóng... Về văn nghệ, ngoài hát tuồng, hát hò khoan, còn có một hình thức múa hát đặc trưng của Lễ hội Cầu ngư là múa hát bả trạo (bả: nắm, trạo: chèo đò) diễn tả tinh thần đoàn kết giữa các thành viên trong một con thuyền, vượt qua sóng to gió cả, mang về một mùa bội thu cho ngư dân.
Lễ hội Cầu ngư bày tỏ khát vọng được bình yên trong cuộc sống của ngư dân, những con người luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả.

 

.